Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

bàn ghế văn phòng biên hòa , bán bàn ghế văn phòng ở tại biên hòa , mua ban ghe van phong



bán ghế xoay , ở tại Biên Hòa mua ghe xoay o đâu ?

ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV085
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV085
284.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV084
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV084
561.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV083
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV083
520.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV082
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV082
1.213.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV081
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV081
1.888.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV080
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV080
1.803.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV079
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV079
1.128.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV078
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV078
552.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa  - THV077
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV077
630.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV076
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV076
1.574.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV075
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV075
530.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV074
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV074
688.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV073
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV073
750.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV072
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV072
781.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV071
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV071
1.096.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV070
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV070
1.165.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV069
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV069
797.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV068
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV068
1.495.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV067
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV067
1.228.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV065
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV065
1.269.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV064
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV064
1.385.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV052
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV052
457.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV051
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV051
514.000 VND
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV050
ghế xoay ở tại Biên Hòa - THV050
693.000 VND
s
ss

bán ghế văn phòng ở tại biên hòa , mua bàn ghe van phong

ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH447
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH447
1.300.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH514
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH514
1.150.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH515
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH515
1.150.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH517
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH517
1.150.000 VND
s

bán ghế văn phòng ở tại biên hòa , mua bàn ghe van phong





ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH016
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH016
2.950.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH017
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH017
2.550.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115A
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115A
2.150.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115B
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115B
1.950.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115C
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH115C
1.700.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH116
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH116
1.800.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH205A
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH205A
2.630.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH117
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH117
1.700.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH205B
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH205B
2.250.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH310-1
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH310-1
1.670.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH339
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH339
1.550.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH342
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH342
1.630.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH343
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH343
1.650.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH344
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH344
1.800.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH345
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH345
1.550.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH346
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH346
1.900.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH443
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH443
1.100.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH444
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH444
1.620.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH445
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH445
1.600.000 VND
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH446
ghế văn phòng ở tại Biên Hòa TH446
1.530.000 VND
s
CẦU HIỆP HÒA - TÍN HIỆU ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG MỘT VÙNG ĐẤT
Cùng với định hướng quy hoạch xã Hiệp Hòa đến năm 2020 của UBND Tỉnh thì năm ngày 19-1-2012 Cù Lao phố (nay là xã Hiệp Hòa) mang một điểm nhấn lịch sử quan trọng khi cầu Hiệp Hòa bắc qua sông Rạch Cát nối Cù lao Phố với Trung Tâm Thành Phố Biên Hòa chính thức được khánh thành và đưa vào sử dụng. Cây cầu được khánh thành và đưa vào sử dụng ngay trong dịp tết Nhâm Thìn không chỉ là niềm vui của người dân vùng đất Cù lao khi mua xuân tới mà còn là một tín hiệu để đánh thức tiềm năng một vùng đất vốn còn gặp nhiều khó khăn này.
Cầu Hiệp Hòa được xây dựng có chiều dài hơn 130m bề hộng 15,5m nói từ phường Thống Nhất (hướng Trung Tâm Tp Biên Hòa sang Cù lao phố Hiệp Hòa) với tổng kinh phí đầu tư trên 150 tỷ đồng. Xác định đây là công trình trọng điểm của Thành phố từ đại hội Đảng Tp lần thứ X nên công trình này luôn được lãnh đạo Thành ủy, UBND quan tâm chỉ đạo đôn đốc các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Mặc dù chậm tiến độ so với kế hoạch nhưng cuối cùng thì cây cầu cũng được khánh thành và đưa vào sử dụng đúng vào lúc người dân Cù Lao Hiệp Hòa đang đón xuân Nhâm Thìn 2012. Đây cũng chính là niềm vui của người dân dân Cù Lao khi mùa xuân về. Bà Lý Lan Anh – Một người dân xã Hiệp Hòa phấn khởi nói  Cái cầu này hoàn thành thì giao thông đối với người dân rất thuận lợi, việc đưa vào sử dụng cây cầu này thì tránh được việc ùn tắc giao thông cũng như nguy hiểm mỗi khi đi qua cầu đường sắt, người dân chung tôi rất là vui mừng phấn khởi.Đồng thời khi cái cầu này hoàn thành cũng tạo nên vẻ đẹp về mỹ quan cho xã Hiệp Hòa chúng tôi”
Đã hàng trăm năm nay người dân Cù Lao Phố chỉ lưu thông con đường duy nhất là đi chung đường sắt qua Cầu Ghềnh và cầu Rạch Cát. Vì thế, việc đi lại vận chuyển lương thực, hàng hóa nguyên vật liệu xây dựng của người dân cũng như điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội của mảnh đất Cù Lao này gặp rất nhiều khó khăn. Đây cũng là nguyên nhân khiến sự phát triển vùng  đất Cù lao Hiệp Hòa qua bao năm vẫn dẫm chân tại chỗ. Với hơn 13 ngàn dân, người dân Cù Lao Hiệp Hòa xưa nay cũng chỉ biết sống với nghề trồng lúa ( Khoảng hơn 50ha), trồng cây ăn trái hoa màu (hơn 10ha), kinh doanh buôn bán nhỏ và sản xuất nhỏ một số mặt hàng truyền thống như bánh tráng, bánh ít. Vì thế, qua năm tháng, nhiều người đã bỏ Cù lao đi nơi khác tìm việc làm.
Cùng với Cầu Hiệp Hòa năm 2011, UBND Tỉnh cũng đang xem xét phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 của Cù Lao Hiệp Hòa giai đoạn 2B hướng tới năm 2020 trong đó có hệ thống giao thông hiện đại. Theo đó, Cù Lao Hiệp Hòa sẽ có tổng cộng 9 cây cầu nối Cù Lao phố với các địa phương và địa phương lân cận như Tân Vạn, An Bình, Bình Đa cùng với một hệ thống giao thông đường nội bộ hiện đại như đại lộ rộng 60m, trục lộ rộng 40m và đường đô thị trung bình rộng 12 đến 30m. Đặc biệt, sau vụ tai nạn nghiêm trọng giữa tàu khách và 8 xe ôtô đang lưu thông trên cầu hồi tháng 2 trong dịp tết Tân Mão vừa qua, một lần nữa đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với những cầu chung này. Trước tình trạng này, thực hiện theo lệnh khẩn cấp của Chính phủ, ngày 11-1-2012, cầu đường bộ tách khỏi cầu Ghềnh cũng đã dược khởi công xây dựng
Việc khởi động bằng dự án cầu Hiệp Hòa và sẽ là bước khởi động trong quá trình từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông tại Cù Lao Phố không chỉ đáp ứng việc lưu thông đi lại của người dân địa phương mà đây cũng chính là chìa khóa đánh thức tiềm năng sẵn có của vùng đất này. Ông Nguyễn Phú Cường - Bí thư Thành Ủy Biên Hòa nhấn mạnh: “Dự Án cầu Hiệp Hòa là một dấu mốc qua trọng, là điểm nhấn lịch sử, là bước khởi đầu trong quá trình đầu tư xây dựng xã Hiệp Hòa thành một  khu đô thị hiện đại – Khu Trung tâm thương mại quốc tế hiện đại kết hợp với du lịch cảnh quan sông nướcBởi cùa lao Hiệp Hòa có một vị trí địa lý đắc đị và có  tiềm năng lớn về du lịch nhưng chưa khai thác được tiềm năng sẵn có này”.
Nói cù lao Phố có vị trí đắc địa là vì Cù lao Phố có thể kết nối giữa Tp Biên Hòa với các khu vực phía nam như Khu Công nghiệp Biên Hòa 1- 2, Thành phố Hồ Chí Minh Cù Lao Hiệp Hòa có đến 4 di tích được xếp hạng Quốc gia được xem là di sản du lịch nhân văn trên địa bàn tỉnh là Đền thờ Thượng Đẳng Thần Nguyễn Hữu Cảnh, Chùa Ông, Chùa Đại giác, Đình Bình Quan. Ngoài ra còn có 17 di tích phổ thông, 3 bến đò 3 bến nước, một số nhà và mộ cổ hợp chất….Vì vậy khi hệ thống giao thông Cù Lao được thực hiện đồng bộ sẽ hình thành nên một sự kết nối, sự tạo dựng của 2 bên bờ sông cái, độc đáo khuyến khích các hoạt động thương mại du lịch giải trí và thư giãn. Ông Phạm Văn Hòa Phó Chủ tịch UBND xã Hiệp Hòa Biên Hòa nóiKhông chỉ thuận lợi về giao thông mà Câu hiệp Hòa cũng có thể là điều kiện có thể thúc đẩy kinh tế xã hội của xã phát triển trong những năm tới từ đó năng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân và từng bước phát triển xã theo hướng hiện đại”.
Đánh giá về sự đánh thức tiềm năng vùng đất Cù lao phố khi có cầu Hiêp Hòa, Ông Trịnh Tuấn Liêm –Quyền chủ Tịch UBND Tp Biên Hòa nói: “Đây là cây cầu đường bộ đầu tiên được xây dựng nối Cù lao Phố ra các địa phương khác mà cụ thể Cây cầu này được nối với Trung tâm Thành phố Biên Hòa. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc lưu thông hàng hóa 2 chiều, là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển thương mại dịch vụ tại Hiệp Hòa từng bước năng cao đời sống của người dân địa phương. Đây cũng có thể nói là một dự án khởi động để tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp vào đầu tư kinh doanh ở vùng đất này. Vì trong tương lai Vùng đất cù lao Phố được xem là quả tim của TP Biên Hòa không chỉ kết nối với các địa quanh Tp mà còn kết nối với các khu vực kinh tế phát triển khác như Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Nam Biên Hòa hướng Vũng Tàu… Đồng thời giải quyết tình trạng kẹt xe thường xuyên tại cầu đường sắt Rạch Cát và Cầu ghềnh, đáp ứng sự mong mỏi có cầu cây của người dân cù lao bấy lâu nay.
Trong tương lai xã Hiệp Hòa sẽ vừa đóng vai trò cầu nối quan trong của Thành phố Biên Hòa vừa là đóng vai trò của một cực phát triển kinh tế thương mại và du lịch của Thành phố. Đòi hỏi, Cù Lao Phố phải phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Trong đó, đầu tư phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng được xem là lĩnh vực cơ bản, then chốt, mang tính quyết định đến sự phát triển chung Cù Lao Phố.. Hy vọng rằng với sự quyết tâm lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Cù Lao Anh Hùng cùng với  việc cầu Hiệp Hòa đi vào hoạt động sẽ là điểm nhấn tạo những lực hút mạnh mẽ nguồn đầu tư vào vùng đất này và cũng là một động lực lớn thúc đẩy sự phát triển của vùng đất Cù Lao trong tương lai.
Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của Phức hệ văn hóa tiền sử Đồng Nai, với những thành tựu giao lưu kinh tế - văn hóa mới và những tiến bộ kỹ thuật tiên tiến liên quan đến phát minh thuật rèn sắt và ứng dụng thành phẩm của kỹ nghệ này trong thực tiễn sản xuất - chiến đấu truyền thống, khởi đầu từ giữa TNK I tr.CN. Trong địa phận tỉnh Đồng Nai, các di tích tiêu biểu của thời kỳ lịch sử sôi động này tập trung quanh vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh cổ kính, nơi “thế giới của các nón núi lửa” thời Pleistocene. Có thể coi đây chính là vùng phát sinh và quần cư quan trọng và liên tục nhất của người cổ Đồng Nai, vùng động lực của truyền thống văn hóa - kỹ thuật thời kim khí cũng chính là 1 khu kinh tế dân cư trung tâm tinh thần ở thời điểm mà cộng đồng người nguyên thủy Đồng Nai khởi dựng cuộc sống văn minh với cấu trúc quyền lực mang hình hài Nhà nước sơ khai của riêng họ. Một loại hình di tích đặc trưng của thời Sắt sớm ở Đồng Nai là những làng nông nghiệp cổ có những xưởng thủ công chuyên nghiệp đúc đồng - rèn sắt - sáng chế và bán buôn đồ trang sức bằng đá quý - mã não - thủy tinh hay vàng bạc... và, bên những nghĩa địa cổ truyền cạnh nơi cư trú, đã hình thành trên các sườn đồi đất đỏ ven suối nhỏ những nghĩa địa riêng biệt chôn người chết trong các quan tài bằng chum vò gốm.Di tích Suối Chồn nằm trên sườn đồi basalte nâu đỏ ven bờ Tây suối Háp, thuộc ấp Bảo Vinh B, xã Xuân Bình (Xuân Lộc), cách Xuân Lộc 4 km và cụm di tích Cầu Sắt - Đồi Mít - Đồi Xoài chỉ 3 - 5 km về phía Đông Bắc. Di tích do ông Đặng Bá Tước phát hiện từ 1976, sau đó, cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH, Viện bảo tàng LSVN, Viện KCH, cùng các nhà khảo cổ Nhật Bản đã nhiều lần điều tra thám sát (4 m2) và khai quật 2 lần (4 - 1978 và 4 - 1979) với diện tích 3 hố = 133 m2. Dấu tích văn hóa cổ ở Suối Chồn trải rộng tới 40.000 m2. Các nhà khoa học phát hiện một khu cư trú cổ với lớp vật chất sinh hoạt dày 0,3 - 1,4 m và 1 khu nghĩa địa riêng biệt với 9 mộ chum vò gốm chứa đồ tùy táng bên trong. Di vật nơi ở và khu mộ thu được bao gồm các sưu tập vật phẩm nội địa và ngoại nhập phong phú. Đồ đá có: 1 cuốc, 80 rìu bôn, 5 đục, 14 bàn mài công cụ hay vòng trang sức, 6 dao gặt, 1 chày nghiền, 1 bùa đeo, 10 khuôn sa thạch dùng đúc rìu, giáo, dùi, hoa tai, lục lạc hay chuông nhỏ, 13 mảnh vòng tay, 2 khuyên tai và nhiều hạt chuỗi. Đồ đất nung có: 14 dọi se sợi, 2 đạn, 2 quả cân cùng 9 chum vò làm quan tài và 8 nồi tùy táng. Đồ thủy tinh có: 1 vòng tay và 2 khuyên tai có 3 mấu xanh lục. Đồ kim loại có: 5 rìu đồng, 5 kiếm sắt, 1 liềm và 1 thuổng sắt (1 mẫu rìu đồng được phân tích hóa - quang phổ ở Viện địa chất Hà Nội cho biết thành phần hợp kim là: Cu+Pb+Sn). Di tích Suối Chồn, gồm cả di tích cư trú và mộ táng, được xác định tương đương với các “Cánh đồng chum” Phú Hòa - Dầu Giây - Suối Đá, vào khoảng nửa sau TNK I tr.CN. Tuy nhiên, làng cổ Suối Chồn từ di chỉ cư trú đến mộ táng trong cùng một kết cấu địa tầng cần được hiểu giống như là liên tục về thời gian, là nội sinh trong kết cấu văn hóa vật chất, mà chính trong nhiều khu vực ở quả đồi ven bờ Suối Háp này, vết tích của những ngôi mộ đất truyền thống với tùy táng phẩm rìu đồng vẫn còn tồn tại trong chiều hướng xuất hiện và lấn át của mộ vò và các loại hình chất liệu trang sức tân kỳ (đá quý, mã não, thủy tinh màu) giống như là những sắc tố khác thường gia nhập vào và cấu thành bản sắc văn hóa sơ sử Đồng Nai thời sơ Sắt.Di chỉ Dầu Giây mang danh dòng suối nhỏ tiếp giáp 2 huyện Thống Nhất - Xuân Lộc, cách TP. HCM khoảng 70 km về hướng Đông – Đông Bắc, do E. Saurin phát hiện 10 - 1965. Đây cũng là làng cổ gồm khu cư trú với tầng văn hóa mỏng (10 - 20 cm) và đất đồi laterite. Tại đây, E. Saurin phát hiện 2 mộ chum không nắp, bên trong chứa 1 mảnh xương, 1 mảnh bàn mài, 1 đá thạch anh và gốm vỡ của bình, nồi cùng ít than củi. Di vật thu thập gồm: 2 dao sắt với 2 cạnh lưỡi sắc, 1 mảnh tước đá, 1 chày nghiền, 1 con lăn, 1 đá khắc và nhiều bàn mài rãnh, đặc biệt còn có 3 mảnh khuôn dùng đúc rìu, bông tai và mũi kim. Gốm vỡ ở đây làm bằng sét pha cát, than hoặc bả thực vật băm nhỏ đốt thành tro cùng nhiều khoáng vật như mica, quarto - felspathique..., nung cao, tạo hình và trang trí khá đẹp. Đó là mảnh của nồi miệng loe đáy cong, bình có cổ loe hay có vai, đĩa có đáy phẳng hơi lõm, lọ nhỏ, chum bụng nở... với trang trí văn thừng, khắc vạch tạo những vòng tròn khép kín, sóng nước, khuông nhạc, răng sói, hình sóng hay xoắy ốc... Di tích Dầu Giây có hàm chứa tư liệu địa tầng và sưu tập di vật có giá trị làm sáng tỏ kết cấu văn hóa của giai đoạn hậu kỳ đồng - sơ kỳ sắt Đồng Nai và cùng với khu di chỉ - mộ địa Suối Chồn mang những đặc trưng văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng của xã hội tiền sử - sơ sử Đồng Nai.Phú Hòa (10053’45’’B - 107015’00’’Đ) là tên 1 ấp cũ, nơi có nghĩa địa quan tài chum gốm cổ chiếm trọn 1 quả đồi đất đỏ basalte cao gần 200 m/mức biển, nhìn xuống thung lũng hẹp bao bọc bởi 2 nhánh của sông Ray, thuộc địa phận ấp Bảo Đỉnh (Xuân Lộc), ven quốc lộ I và cách Xuân Lộc 3 km về hướng Nam. Di tích do nhân dân địa phương phát hiện 3 - 1971, H.Fontaine và Hoàng Thị Thân khảo sát và khai quật “chữa cháy”, xử lý 46 mộ chum. Sau 1975, Hoàng Thị Thân cùng cán bộ Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH đã trở lại đây phúc tra, rồi từ 1977 - 1979, cùng Viện BTLS Việt Nam, Trường đại học tổng hợp Hà Nội điều tra, đào vài hố thám sát và phát hiện thêm 1 vò nhỏ cùng 1 thẻ đeo bằng đá, mảnh vỡ của nhiều chum gốm.Theo các công bố của H.Fontaine (1971 - 1975), các chum cao khoảng 75 cm với bụng rộng 40 - 80 cm, sắp xếp không theo quy luật, có khi thành từng cụm, có khi lại cách quãng, nhưng đều chôn đứng ở những độ sâu khác nhau. Chum làm từ sét pha cát hạt lớn lẫn khoáng vật (quarto - felspathique), áo miết láng màu đỏ hồng, một số có trang trí những hình xoắn ốc tạo thành dải các chữ S nằm nghiêng nối tiếp hoặc cách đều nhau. Đồ tùy táng cực kỳ phong phú, nhưng người xưa sắp xếp không đều trong các chum, thường là đồ trang sức đủ loại, đồ gốm gia dụng hay dụng cụ - công cụ và khí giới bằng sắt. Thống kê tổng quát đồ tùy táng Phú Hòa có tới 1973 di vật định hình, trong đó: Đồ sắt có: 9 cuốc, 2 rìu, 5 dao, 13 liềm, 11 kiếm với 2 cạnh sắc, 1 quả cân. Ngoài 46 chum làm quan tài, đồ đựng gốm có: 7 nồi đáy tròn có băng trang trí hình răng sói ngang bụng, 14 bình cổ thắt dáng tròn hay hình quả trứng, 46 đĩa đáy bằng hay uốn cong có chiếc có 2 lỗ ở vành miệng để buộc dây treo, 4 cốc, 5 đạn tròn hay dẹt, ngoài ra còn có ống chỉ có lỗ xuyên dọc, chân đèn giống Sa Huỳnh, chân đế bát bồng... với nhiều dạng hoa văn trang trí như in dấu vải, chấm dải, miết láng hay khắc vạch tạo các đồ án hình học như các đường cong, gạch ngắn, răng sói, chấm xiên nhỏ, hình chữ nhật, lượn sóng, chữ S nối nhau... Đồ trang sức Phú Hòa đa dạng, gồm: 1 dây chuyền bạc, 22 vòng đeo tay (4 bằng đá mài bóng lộn, 2 vòng thủy tinh xanh sẫm, 15 vòng đồng với 1 vòng kép còn dấu vải mịn trên bản vòng, 19 vòng sắt cấu tạo từ 2 thanh sắt tròn dính chặt nhau, 5 nhẫn sắt, 8 khuyên tai bằng ngọc nephrite màu trắng vân xanh với 2 khuyên tai có hình 2 đầu thú và 6 bông tai có 3 mấu giống trang sức mà thổ dân miền núi Philippines gọi là “Lingling - O”, 2 lục lạc đồng... Hạt chuỗi và cườm chiếm tới 1.800 tiêu bản, trong đó, ngoài 1 hạt bằng vàng, còn lại thuộc 2 nhóm: gần 200 hạt có đường kính hơn 0,5 cm (30% hình cầu, 30% hình trụ tròn, 20% hình thoi, 1 hạt hình quả trám, số còn lại là ngọc dài với 6 - 7 diện tiếp xúc); loại có đường kính nhỏ hơn 0,5 cm thường là thủy tinh nhân tạo các màu đỏ, xanh, cam, vàng, lục, hoặc đá quý như agate, granat, cornaline...)Theo H.Fontaine và Hoàng Thị Thân, di tích Phú Hòa, cùng với Dầu Giây và Hàng Gòn 9 có nguồn gốc từ văn hóa Sa Huỳnh ở ven biển Nam Trung bộ Việt Nam, với kết quả giám định C14  của bà G. Delbrias tại Centre des Fablo Radioactivités ở Gif - sur - Yvette (Pháp) 1 mảnh gốm ở chum M8 và mẫu than gỗ trong các chum M11, M13 là: 2400 ± 140 và 2590 ± 240 năm cách ngày nay.Di tích Hàng Gòn 9 nằm trên một đoạn sườn đồi đất đỏ basalte ven suối Gia Liêu (còn gọi là suối Đá), diện tích khoảng 100 x 50 m = 5.000 m2, được E. Saurin khám phá 1963, thuộc địa phận Nông trường cao su Hàng Gòn, xã Xuân Tân (nay thuộc huyện Long Khánh), cách thị trấn Xuân Lộc 10 km về phía Tây Nam. Lần đầu tiên khảo sát ở đây, E. Saurin chỉ tìm thấy 2 chum gốm có cả khuyên tai 2 đầu thú, 1 kiếm sắt và nhiều gốm vỡ. Sau đó, ông phát hiện thêm 60 chum nữa chôn đứng ở độ sâu 0,2 - 1,5 m với những nắp đậy khác nhau. Trong chum không thấy xương răng người chết và than tro, chỉ có những vật dụng thông thường bị những người mai táng xưa cố ý đập vỡ, hay bẻ gãy trước khi chôn. Phía ngoài mộ chum, đôi khi họ còn chôn kèm theo nhiều bình gốm, đồ sắt hay rìu đá còn nguyên vẹn.Chum làm quan tài thường cao 40 - 60 cm với miệng rộng khoảng 40 cm và chứa tùy táng phẩm gồm: 2 rìu đá, 1 kiếm sắt, 1 cuốc sắt, 3 rìu sắt có họng tra cán và lưỡi dẹt phẳng (thành phần hóa học của đồ sắt được E. Saurin giám định cho thấy, ngoài nguyên tố Sắt là chủ yếu, còn cả dấu vết của chrome, nickel, đồng, maganène, molybdene, lithium). Đồ gốm có các loại: dọi se sợi hình chóp cụt có trang trí hình răng sói quanh rìa, khoanh gốm hình ống, chân đèn, nắp đậy có trang trí những vòng tròn đồng tâm trên mặt, đĩa nông lòng, cốc miệng rộng có trang trí văn sóng nước hay kiểu khuông nhạc hoặc những vạch xiên trên vành mép, bình với các kiểu khác nhau: mép gập vào có trang trí văn chải thưa; mép rộng thành cong; mép vuốt mỏng hông nhỏ đáy trũng; miệng rộng đáy bằng... Hoa văn trang trí đặc trưng của gốm Hàng Gòn là những hình xoắn ốc nằm giữa những băng ngang hẹp.  Đồ trang sức gồm: 1 hạt chuỗi bằng vàng hình tháp dẹt cuộn tròn có 2 đoạn uốn cong làm mấu đeo; Hạt chuỗi bằng cornaline màu đỏ hình đa giác, bằng agate có hình ống tròn hơi phồng, bằng pagodite màu trắng, bằng zircon màu vàng nâu với lỗ xuyên dây, bằng thủy tinh màu xanh đệm có hình đĩa nhiều cạnh, màu đỏ da cam hơi đục có hình ống; 1 bông tai đồng mạ vàng; 1 khuyên tai có 2 đầu thú bằng đá pagodite...Di tích Hàng Gòn 9 có 2 mẫu than gỗ được D.J. Thomaret giám định tại Trung tâm khoa học Monaco và 1 mẫu thực vật do bà G. Delibrias phân tích tại Trung tâm phóng xạ yếu ở Gif - sur - Yvette, cho kết quả niên đại C14: 2300; 2190; 2100 ± 150 năm cách ngày nay. Dù trong các quan tài gốm chưa thấy nhân cốt hoặc than tro, E. Saurin vẫn nghĩ rằng đây là khu mộ chum được hỏa táng giống như phong tục chung của cư dân Indonésien. Ông cho rằng chủ nhân di tích này có quan hệ với tục sử dụng quan tài bằng gốm ở Phú Khương (Quảng Ngãi) hay Dầu Giây, Phú Hòa (Đồng Nai) và có thể quan hệ với tục mai táng trong “Klong” của người Chăm, riêng những đồ trang sức chôn trong các mộ chum này có nguồn gốc ngoại nhập từ nhiều trung tâm văn minh lớn của thế giới. Niên đại khu nghĩa địa này theo tác giả tương đương với văn hóa Đông Sơn, bắt đầu khoảng 500 năm tr.CN và kết thúc ở thế kỷ I sau CN. Theo chúng tôi, di tích nghĩa địa chum Hàng Gòn 9, cùng với Suối Chồn - Dầu Giây - Phú Hòa và những di chỉ mộ chum ở Cần Giờ cho thấy sự lan tỏa và giao thoa văn hóa mạnh mẽ giữa văn hóa Sa Huỳnh và truyền thống thời đại kim khí - thời đại sắt văn hóa Đồng Nai; hình thành một cụm di tích mang đầy đủ tính chất văn hóa của giai đoạn phát triển cuối cùng thời sơ sử ở Đồng Nai và toàn bộ địa vực hạ lưu của hệ thống sông này.Bên cạnh cụm di tích mộ chum vò Suối Chồn - Dầu Giây - Suối Đá - Phú Hòa và những làng nông nghiệp - thủ công thời sơ kỳ Sắt, trong vùng đất đỏ basalte Xuân Lộc - Long Khánh còn hiện diện các công trình di tích văn hóa vật chất - tinh thần Đồng Nai đặc sắc khác nhau: Quần thể di tích kiến trúc mộ bằng đá lớn (cự thạch) Hàng Gòn hay kho tàng chứa khối lượng lớn vũ khí - công cụ - tượng thú quý hiếm trên đỉnh núi lửa cổ Long Giao.Mộ cự thạch Hàng Gòn trước đây thuộc đồn điền cao su Xuân Lộc, xã Xuân Lộc, tổng Lâm Bình thượng, tỉnh Biên Hòa, sau đổi là ấp Hàng Gòn, xã Thới Giao, quận Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh; rồi ấp Xuân Thanh, xã Xuân Tân, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai; ngày nay lại là ấp Hàng Gòn, xã Xuân Thanh, huyện Long Khánh. Di tích còn gọi là Mộ cự thạch Xuân Lộc, thoạt đầu được E. Saurin định số 7 trong 10 di tích mà ông khảo cứu ở đồn điền này (Hàng Gòn 7), khi dân sở tại dựng miếu nhỏ thờ “Ông Đá” còn mang tục danh “Mả Ông Đá”. Mộ đá lớn nằm trên vùng đồi đất đỏ basalte, cao độ 256 m so với mực nước biển, cách Suối  Đá nơi gần nhất 800 - 900 m, cách tỉnh lộ 2 khoảng 100 m về phía Tây, cách Xuân Lộc 8 km về phía Nam và cách Biên Hòa 50 km về phía Đông.Đầu năm 1927, khi mở đường liên tỉnh số 2, kỹ sư cầu đường Pháp J. Bouchot nhìn thấy 1 tảng đá nhô thẳng từ dưới gốc cổ thụ lớn và từ giữa tháng 4 năm đó, ông cho khai quật khu vực này và thông báo 3 lần từ 1927 - 1929. Kết quả khám phá công trình “cự thạch” ở đây lập tức thu hút sự quan tâm của nhiều học giả phương Tây, bắt đầu từ vị chủ sự khảo cổ Đông Dương H. Parmentier đến L. Malleret, E. Gaspardone, H. Loofs, E. Saurin, H. Fontaine... cho đến gần đây với nhiều cuộc viếng thăm tìm hiểu của các nhà khảo cổ Nga, Đức, Bungari, Nhật Bản, Mỹ.... Mộ cổ Hàng Gòn được chính quyền Pháp xếp hạng năm 1930, ghi số 38 trong danh mục “Mộ Đông Dương - di tích ở Nam kỳ”. Từ 1981 - 1982, Bảo tàng Đồng Nai và Trung tâm KCH đã nhiều lần điều tra, xây dựng phương án nghiên cứu phục hồi bảo vệ di tích. Năm 1984, mộ đá Hàng Gòn được Bộ văn hóa - thông tin xếp hạng. Đầu năm 1992, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH tổ chức khai quật lần 2 nhằm cứu vãn bản thân hầm mộ khỏi sụt lún và đổ vỡ, nghiên cứu địa tầng quanh hầm mộ và tôn tạo di tích (Hình 9). Đầu 12 - 1995, khi tiến hành san ủi mặt bằng trong phạm vi giải tỏa của Xí nghiệp khai thác đá (Nông trường cao su Hàng Gòn), những người lái xe ủi húc phải 3 tấm đan bằng đá hoa cương nằm ngang cách mộ đá xưa 60 m về phía Đông Nam. Ông Trần Tử Oai đã cấp báo Bảo tàng Đồng Nai. Sau 3 đợt điều tra khẩn cấp, được phép của UBND tỉnh, Bộ VHTT, Bảo tàng Đồng Nai, Trung tâm KCH khai quật “chữa cháy” từ tháng 1 - 1996. Di tích cự thạch vừa phát hiện liên hệ hữu cơ với di tích mộ Hàng Gòn phát hiện năm 1927 đã xếp hạng cấp Quốc gia. Đoàn công tác đặt tên Hàng Gòn 7B cho kiến trúc cự thạch này.Hàng Gòn 7A (10051’44’’B - 107014’07’’Đ). Theo công bố của J. Bouchot và H. Parmentier, hầm mộ cự thạch có dạng hình hộp chữ nhật, được lắp ghép bởi 6 tấm đan bằng đá hoa cương lớn nằm theo hướng Đông Tây, ở giữa 4 hàng cột gồm: 8 trụ bằng sa thạch hoặc basalte cao tới 2,5 - 3 m với đầu khoét lõm hình yên ngựa, 2 trụ còn lại là 2 tấm đan lớn (7,2 x 1,1 x 0,35 m). Người khai quật đầu tiên lưu ý đến 1 điểm khai thác đá hoa cương giống nguyên liệu làm hầm mộ Hàng Gòn lộ thiên gần Đà Lạt và hình dung những nỗ lực phi thường của người xưa nếu phải vận chuyển những khối đá có khi tới gần 10 tấn đi hàng trăm cây số trong điều kiện địa hình nguyên thủy rất hiểm trở mang về đây dựng mộ. Theo H. Parmentier, thoạt đầu người xưa kiến thiết hầm mộ chìm trong lòng đất, các hàng cột chung quanh được chôn theo nấc hình thang thấp dần theo hướng mộ, có tác dụng đỡ cho dụng cụ mở và đóng nắp hầm mộ mà theo tính nặng gần 7 tấn. Việc nâng và hạ nắp hầm có thể nhờ vào sự trợ lực của hệ thống ròng rọc ở các trụ đá - cây gá lắp trên chỗ lõm hình yên ngựa của trụ chính cùng dây chằng luồn qua phần nhô ra của nắp hầm và lực kéo tập thể, mà theo tác giả chỉ thực hiện mở hầm mộ trong những dịp có nghi lễ mai táng lớn của cộng đồng

Lịch sử trang phục

Việc ăn mặc ở xứ Đồng Nai có diễn trình như lịch sử trang phục của Đàng Trong sau đó có sự cải biến thích hợp với điều kiện, môi trường văn hóa của vùng đất mới. Khi Nguyễn Hoàng mới chuyển cư vào Thuận Hóa, trang phục, vật dụng thuở ấy ắt giống như Đàng Ngoài. Đời chúa Nguyễn Phước Nguyên (1613 - 1615), Đào Duy Từ có hiến kế thay đổi trang phục cho khác Đàng Ngoài. Tuy nhiên, việc cách tân ấy chỉ nghe qua truyền khẩu, chưa đủ tài liệu để xác định.
Có thể hình dung diễn tiến cách ăn mặc ở xứ Đồng Nai - Gia Định thuở khai sơ theo mô tả của Trịnh Hoài Đức: "người quan chức thì đội khăn cao sơn, mặc áo phi phong, mang giày bì đà; hạng sĩ thứ thì bới tóc, đi chân trần, con trai con gái đều mặc áo vắn tay, bâu thẳng, may kín hai nách, không có quần; con trai dùng một miếng vải buộc từ sau lưng thẳng đến dưới háng quanh lên đến rún, gọi là cái khố, con gái có người không mặc váy, đội nón lớn, hút điếu bình, ở nhà thấp, trải chiếu ngồi dưới đất, không có bàn ghế".
Đến đời chúa Nguyễn Phước Khoát (1738 - 1765), có chuyện đồn rằng chúa Thế Tôn tin lời một câu sấm truyền ở Nghệ An bèn xưng Quốc Vương, thay đổi trang phục, đặt nhiều lệ tục khác hẳn Đàng Ngoài để tránh bị diệt vong. “Năm Mậu Ngọ (1738), Thế tôn Hiếu Võ Hoàng đế định lại sắc phục, các quan võ châm chước theo chế độ của Hán Đường, đến Đại Minh thì hình thức mới như phẩm phục quan chế ngày nay đã ban hành theo trong hội điển, gồm đủ cả văn chất. Còn y phục gia thất khí dụng của hàng sĩ thứ đại lược như thể chế đời Minh, bỏ hết tục xấu ở Bắc Hà mà làm một nước y quan văn hiếu vậy".
Có lẽ, phụ nữ mặc quần hai ống (thay váy), áo năm thân (thay vì mặc yếm và áo tứ thân), bới tóc chứ không phải vấn... bắt đầu từ thời này. Vậy là, từ thuở khai sơ, trang phục của cư dân Gia Định - Đồng Nai đã được cách tân theo khuôn mẫu của Đàng Trong, ảnh hưởng nhiều của Bắc phương (Trung Quốc) diễn tiến theo con đường khác miền Bắc.
Cách ăn mặc của người Gia Định - Đồng Nai không khác mấy so với cả vùng Nam bộ. Trang phục cổ truyền của người bình dân chủ yếu bằng vải, bằng lãnh lụa địa phương màu đen, nâu sẫm. Nam giới, khi lao động mặc áo cánh ngắn, không tay xẻ giữa, cài nút vải; thường là năm nút tượng trưng cho năm giềng mối quan trọng ở đời; quần lửng đến gối, có người đóng khố. Nữ luôn mặc đồ dài hơn, áo cánh tay dài, cổ đứng, nút vải. Thỉnh thoảng vẫn có người mặc váy đeo yếm, nhưng dần dần vắng bớt rồi mất hẳn. Màu áo của người bình dân thường đen, nâu sẫm, chàm sậm, nhuộm bằng các thứ vỏ cây. Đàn ông thường ăn trầu đeo túi hổ phệ ngang lưng để đựng trầu cau, thuốc hút. Đàn bà thắt ruột ngựa may bằng vải để đựng trầu cau thuốc xỉa, hoặc đeo thêm bọc nhỏ kết vào ruột ngựa vận lưng quần. Người trí thức, sư sãi thường đeo túi vải gọi là hà bao có thêu hoa văn để đựng đồ lặt vặt.
Lúc xưa, người Gia Định - Đồng Nai thường đi chân đất (không mang giày dép) nên người Quảng Đông gọi họ là người xích cước, vì từ trước chỉ có quan quyền giàu có ở thị phố phong lưu mới mang giày tất. Đến thế kỷ XIX ảnh hưởng tục người Trung Hoa, người làm thuê và tỳ nữ cũng biết mang guốc da, giày vải.
Ngày lễ, hội, người ta vận lễ phục chỉnh tề gồm: quần chùng trắng, áo dài đen bằng the hoặc lụa, khuy đồng cài chệch bên phải, khăn đóng. Chân mang guốc gõ hoặc giày hàm ếch, giày mã nị. Nữ mặc áo dài hơn nam; có loại áo dài năm thân dành riêng cho nữ; nhưng thông thường, lễ phục nữ cũng như nam đều là áo dài, không khác nhau mấy về kiểu và màu sắc khiến rất khó phân biệt đàn ông đàn bà.
Ngày thường, ở trong nhà, người đàn ông thường mặc áo bà ba không túi, quần vận lưng có sợi dây vải thắt nút; đàn bà, con gái thường mặc áo đen nút bằng hổ phách hay mã não, trong có áo lót (áo túi bó chặt ngực), hoặc áo vá quàng, ít khi dùng áo màu. Người đàn ông lớn tuổi thường bịt khăn vải đỏ, người đàn ông trung niên quấn khăn xéo, bà già có khăn rằn vắt vai hoặc khăn màu để lau cổ trầu. Thiếu nữ tân thời đội nón lá buông hay nón bài thơ. Đàn bà trung niên thích bới tóc, xức dầu dừa cho thơm, có giắt móc tai, trâm bạc hoặc đồi mồi, có khi là cái lông nhím.
Về các loại trang phục, có sự đổi khác theo thời: Như chiếc khăn đóng chẳng hạn, đầu tiên là khăn xếp gồm một tấm vải màu quấn 5 lớp, kế đó là khăn đóng tương tự cách xếp được đóng sẵn cho tiện, đến khăn chụp đóng sẵn gọn gàng hơn với nếp chữ nhân đơn giản. Khăn đóng Suối Đờn thịnh hành khắp Nam bộ những năm 1920 -1930.
Đến giai đoạn đầu thế kỷ XX, nam nữ thanh niên Gia Định - Biên Hòa còn bới tóc. Nữ có kiểu bới tóc giữa đỉnh đầu, giắt lược cài trâm, hoặc kiểu bới chải ngược ra sau, cuộn ba vòng, cài lược hoặc giắt móc tai. Nam giới bới tóc củ hành, còn bao khăn, cài lược. Lược bằng đồi mồi là phổ biến.
Cùng với trang phục cổ truyền, đầu thế kỷ XX bắt đầu những kiểu trang phục nửa Tây nửa ta, nhất là khi ảnh hưởng của phong trào Duy Tân (1906 - 1907), thanh niên Nam bộ hưởng ứng phong trào vận động cắt tóc ngắn, dần chuyển sang mặc kiểu Âu phục.
Do ảnh hưởng Âu Tây, trang phục và trang sức phụ nữ vốn đã nhiều kiểu loại càng thêm phong phú. Có thể kể nhiều loại trang sức phụ nữ đầu thế kỷ XX: Trâm cài tóc có trâm phụng (hình chim phụng), trâm rung (kết bông vàng, khi di chuyển đong đưa), trâm nĩa (hình cái nĩa). Thiếu nữ đã đính hôn hay phụ nữ đã có chồng thời đeo bông tai ngụ ý lỗ tai đã bịt kín không còn nghe lời ong tiếng ve. Bông tai gồm bông mù u, bông ớt, bông đinh, bông cẩm thạch... nghèo thì bông bằng hổ phách, giàu thì bông đá quí, hột xoàn. Trang sức đeo cổ thường có kiềng, chuỗi hạt, dây chuyền... bằng bạc, vàng, châu báu tùy ở chủ nhân giàu hay nghèo. Ngoài vàng, ngọc, đá quí, ngọc trai, hổ phách, mã não, đồi mồi thường dùng làm đồ trang sức cho phụ nữ, người Biên Hòa - Đồng Nai còn thích trang sức bằng ngà voi, nanh heo, răng cọp, răng cá sấu, ngọc cốt cá ông... cho nam giới.
Đi ra khỏi nhà, bậc trung lưu thường có dù để che nắng, che mưa, còn để làm vật trang sức. Xứ Đồng Nai dùng nhiều loại dù: dù giấy bằng sườn tre, đắp giấy dầu; dù quéo với tay cầm có móc như cù quéo; dù hai da may bằng hai lớp vải màu khác nhau trong ngoài; dù lục soạn là loại dù sang trọng mang tên loại lụa sản xuất tại Trung Quốc... gặp nhau, người ta lễ phép chào bằng cách nghiêng dù. Trong khởi nghĩa chống Pháp, dù được dùng làm mật hiệu của phong trào Thiên Địa Hội Biên Hòa:
Dù mang bên tả: đảng viên
Đi việc cơ mật nói riêng chủ nhà.
Dù mang cái móc trở ra
Bàn sơ chút việc ghé qua đi liền.
Dù mang cái móc trở vô
Phải lo cơm nước với đồ nghỉ ngơi
Chiếc áo bà ba quen thuộc với người Nam bộ từ đầu thế kỷ XX không rõ có nguồn gốc từ đâu. Có người cho rằng đó là do cách tân từ kiểu áo lá và áo "xá xẩu" của tộc người Ba Ba ở đảo Pinăng của Malaysia. Do áo xẻ vạt đẹp, tay kín, có túi đựng lặt vặt, khoét cổ thoáng mát... nói chung là tiện dụng nên được cả nam, nữ xứ Nam bộ ưa thích. Đến nay, qua nhiều lần cải tiến thời trang, áo bà ba vẫn đẹp, hợp với sở thích người địa phương.
Phụ trang đi cùng với áo bà ba là nón lá với khăn rằn. Khăn rằn rõ là có nguồn gốc Khơme nhưng gắn với phong tục Việt đã lâu, gồm rằn sọc xanh và rằn sọc đỏ. Khăn rằn để vắt vai, đội đầu, hoặc cột ngang lưng đều đẹp. Nón lá được thiếu nữ nông thôn yêu thích. Nón lá buông Long Thành là loại nón phổ biến ở địa phương nổi tiếng cùng nón Gò Găng (Bình Định) và nón bài thơ xứ Huế.
Trang phục cô dâu, chú rể vùng Gia Định - Biên Hòa đến đầu thế kỷ XX còn theo trang phục lễ cổ truyền. Theo mô tả trong tác phẩm "Gò Công cảnh cũ người xưa" của Việt Cúc, ngày cưới chú rể mặc áo lương thưa đen, quần vải quyến trắng, đầu vấn khăn đen. Cô dâu mặc áo vân đen mỏng, quần đũi màu hồng sậm, cổ đeo xâu chuỗi hổ phách, to bằng ngón cái, hai tay xỏ đôi búp bạc... Cả hai đều khoác ngoài áo thụng rộng xanh, lót màu cánh sen, khi ra sân có cặp lọng che. Theo kiểu trang phục xưa, áo của cô dâu chú rể thường là áo cặp, có lẽ để chỉ sự "đủ đôi đủ cặp" của lễ cưới. Áo cặp là áo dài đôi may hai lớp, bên ngoài là lụa gấm, thêu chữ thọ, bên trong là lớp lót. Dần về sau, trang phục cổ truyền bị thay dần chuyển sang âu phục.
Người Biên Hòa - Đồng Nai và Nam bộ nói chung thường dùng vải hơn lụa; nhưng lụa vẫn được dệt ở Biên Hòa, còn mua ở các nơi khác nữa để may trang phục. Nhiều gia đình nông thôn hiện còn giữ khung dệt của thời trồng bông dệt vải khi xưa. Ở địa phương lưu hành nhiều thứ lụa: lãnh, xuyến, the (hay lương)... dệt tại địa phương. Ngoài ra, còn có: lượt, là, sa, đũi, thao, tố, nhiễu, vân, gấm... từ nơi khác mang đến.
Lãnh đen Bà Rịa - lụa Tân Châu là những mặt hàng nổi danh khi xưa. Vải thì nhiều loại do tự dệt ở khung cửi gia đình xưa. Vải thô dệt to sợi, giá rẻ, dành cho quần áo lao động, vải viền nhỏ sợi may áo mát, vải hẩm không được trắng lắm, vải Tây của người Pháp nhập vào... các loại vải đều phát huy công dụng trong việc may sắm trang phục ở Biên Hòa - Đồng Nai xưa và nay.
Người Hoa ở xứ Biên Hòa - Đồng Nai ăn mặc không khác mấy người Việt, chỉ vài nét dị biệt nhỏ khi phải chăm chút kỹ lưỡng, búi tóc phụ nữ không tròn mà thường ép dẹp xuống; nữ trang nhiều kiểu loại hơn, lễ phục cưới chuộng màu đỏ, thường là xiêm gấm thêu phụng, cô dâu người Hoa Quảng Đông còn đội mũ phụng, che mặt bằng vải thưa. Đàn ông lớn tuổi người Hoa ăn mặc đơn giản, thường mặc quần lững (dài đến gối) áo "xá xẩu" tay lỡ vải thường, người sang thì mặc quần dài lãnh đen, áo gấm tay dài, đi giày gỗ, đội mũ quả bí (quá bì mũ).
Người Stiêng, Châu Mạ, Châu Ro xưa ăn mặc tương tự nhau, nam đóng khố nhỏ, ở trần, đầu quấn khăn, thiếu nữ mặc áo cánh, thiếu phụ để ngực trần, quấn váy; Ngày lễ hội nam nữ mặc trang phục đẹp khố, váy đều mới, hoa văn màu sắc sặc sỡ, thường nhuộm màu từ vỏ cây rừng. Nữ điểm trang thêm kiềng bạc quanh cổ (người Stiêng), người Châu Mạ kết tua đeo lục lạc đồng ở gấu váy; người Châu Ro trang sức bằng các xâu chuổi hạt nhiều màu. Thổ cẩm là chất liệu chính tạo trang phục, do người làng tự dệt theo kỹ thuật người Chăm. Hiện làng Mạ ở Tà Lài, Hiệp Nghĩa còn nhiều người biết dệt, nhiều gia đình còn khung dệt. Dần dần, trang phục cổ truyền chỉ dành để ngày hội ở các cụ già, thanh niên tân thời đều theo lối ăn mặc của người Việt.
Nhạt nhòa cổ mộ
Chúng tôi có mặt nơi đây vào một buổi trưa nắng gắt. Cách giao lộ đường vào Văn Miếu – đường Huỳnh Văn Nghệ chừng 300m, hai bên đường, trên lề ngổn ngang những khối đá với những hoa văn lạ lẫm. Có khối hình chữ nhật, có khối hình tròn, có cả một mảng với tấm bia mờ nhạt chữ.Nhìn thấy chúng tôi, một người đàn ông đứng tuổi từ bên trong nghĩa trang gia tộc Võ Hà bước ra cho biết : "Mộ cổ Cầu Xéo đó. Cách đây hơn một năm không biết từ đâu họ chở về rồi bỏ xuống đây. Từ đó đến nay không một ai đoái hoài tới".Đây là ngôi mộ cổ được phát hiện và khai quật vào ngày 16/9/2011 tại khu vực Cầu Xéo (thị trấn Long Thành, huyện Long Thành) khi dự án đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây khởi công. Báo chí lúc bấy giờ đã tốn khá nhiều giấy mực để chuyển tải những thông tin liên quan đến ngôi mộ này.Được biết, qua điều tra khảo cổ học đã xác định niên đại của ngôi mộ này đã có trên 200 năm. Cấu tạo ngôi mộ là một loại hợp chất có kết cấu khép kín hình chữ nhật.Diện tích ngôi mộ rộng khoảng 40m2 với tường thành bao bọc chung quanh. Trên bức tường thành có nhiều hoa văn, họa tiết thể hiện: Long, Lân, Quy, Phụng. Mộ có bình phong tiền, hậu. Nhiều văn bia chữ Hán đã hoen mờ nhưng còn có khả năng giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về công cuộc khẩn hoang vùng đất Đồng Nai.Thi hài bên trong ngôi mộ có giới tính nữ và chỉ còn lại bộ xương được bọc trong lớp vải bên trên phủ lá sen. Qua các vật tùy táng tìm thấy được cho thấy người chết có thể là một quý tộc.Nói về kết cấu ngôi mộ hiện nay chỉ mới xác định là một hợp chất rất rắn chắc. Trước đây, khi dự án chưa triển khai, ngôi mộ đã nhiều lần bị đạo tặc đào trộm nhưng không lần nào thành công bởi kết cấu quá vững chắc. Đơn vị giải tỏa mặt bằng tiến hành bốc mộ theo cách thông thường cũng đã thất bại. Phải đến khi sở VHTTDL Đồng Nai vào cuộc khai quật bằng nhiều thiết bị cơ giới thì bí mật trong ngôi mộ mới được hé mở.Dự kiến thi hài được đem về Bảo tàng Đồng Nai và toàn bộ ngôi mộ sẽ được phục dựng nguyên vẹn tại khu Văn miếu Trấn Biên để giúp giới khoa học và khảo cổ nghiên cứu lịch sử, văn hóa thời điểm khai phá vùng đất mới Đồng Nai.Vậy mà, hơn một năm nay, những khối đá, kết cấu của ngôi mộ, vẫn còn lăn lóc nằm phơi mưa, nắng.ss
nội thất ...